Sa sâm trị phế, vị âm hư

Ở Việt Nam, sa sâm chủ yếu từ cây (Launaca pinnatifida Cass.), thuộc họ cúc (Asteraceae), được dùng thay Bắc sa sâm và Nam sa sâm; tác dụng chữa ho, trừ đờm, chữa sốt.

Sa sâm có các dẫn xuất saponin, coumarin và các hợp chất đường, sinh tố B2… Tác dụng giãn mạch, làm tăng trương lực cơ tim, trừ đàm và kháng trực khuẩn. Theo Đông y, sa sâm vị ngọt hơi đắng, tính lương; vào phế, vị. Tác dụng dưỡng âm, thanh phế, ích vị sinh tân, hóa đàm chỉ khái. Trị phế táo âm hư, vị âm hư. Ngày dùng 9-25g; có thể nấu, hầm hoặc sắc. Sau đây là một số cách dùng sa sâm làm thuốc.

Nhuận phế chỉ khát: trị chứng phế nhiệt, ho khan, ho lâu ngày, khản tiếng.

Bài 1 – Thang thanh kim ích khí: sa sâm 20g, hoàng kỳ 4g, sinh địa 20g, tri mẫu 12g, huyền sâm 12g, ngưu bàng tử 12g, xuyên bối mẫu 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Trị chứng hư nhược khí ngắn, phổi yếu, mất tiếng.

Bài 2 – Thang sa sâm mạch đông: sa sâm 12g, mạch môn 12g, ngọc trúc 12g, thiên hoa phấn 12g, tang diệp 12g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Trị chứng phế vị táo nhiệt, ho khan ít đờm, họng khô, miệng khát. Nếu trong người nóng quá thì gia thêm địa cốt bì 12g.

Sinh tân chỉ khát: trị bệnh nhiệt về cuối kỳ còn sốt lai rai, họng khô, miệng khát. Dùng Thang ích vị: sa sâm 16g, sinh địa 20g, ngọc trúc 12g, mạch đông 12g. Sắc uống.

Món ăn thuốc có sa sâm:

Nước đường sa sâm: sa sâm 25g, đường phèn 15g, nước lượng thích hợp, đun nhỏ lửa 15 phút. Món này rất tốt cho người bị ho sốt (phế nhiệt khái thấu).

Canh thịt gà sa sâm: sa sâm 15-60g, trứng gà 3 quả. Nấu dạng canh trứng. Dùng tốt cho người bị đau nhức răng.

Sa sâm hầm thịt nạc: sa sâm 12g, thịt nạc 100g. Cả hai hầm nhừ, thêm gia vị (hạn chế tiêu ớt). Món này tốt cho sản phụ ít sữa.

Kiêng kỵ: không dùng sa sâm khi ho do cảm cúm (cảm mạo phong hàn). Sa sâm phản lê lô.

BS. Tiểu Lan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *